giáo án 12

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Hường (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:52' 06-08-2009
Dung lượng: 162.0 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Bùi Hường (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:52' 06-08-2009
Dung lượng: 162.0 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
(Trích) Nguyễn Tuân
I/ TIỂU DẨN :
- Xuất xứ : Người lái đò sông Đà được in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960).
- Hoàn cảnh ra đời : Đây là kết quả của những chuyến đi thực tế đến Tây Bắc vừa để thỏa mãn thú phiêu lãng, vừa tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên và chất vàng mười “thứ vàng mười được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động và chiến đấu vùng Tây Bắc.
II/ ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN :
1/ Hình tượng con sông Đà : Con sông là cảm hứng muôn đời của thơ ca. Với Nguyễn Tuân, sông Đà không còn là một thiên nhiên vô tri vô giác mà trở thành một hình tượng văn học, một sinh thể có tính cách, có tâm trạng độc đáo. Sông Đà có hai nét tính cách đối lập nhau “hung bạo và trữ tình” như nhà văn nhận xét trong tác phẩm. Lúc hung bạo, trở mặt, sông Đà là “một thứ kẻ thù số một, luôn luôn làm mình, làm mẩy với con người và nó ác như một mụ dì ghẻ”, nhưng khi trữ tình, sông Đà đầy chất thơ, dịu dàng và thân thiết như “một cố nhân”. Hai nét tính cách đối lập của sông Đà phù hợp với khả năng chiếm lĩnh thực tại của con người và phù hợp với phong cách của Nguyễn Tuân (tìm đến với những vẻ đẹp khác thường, những cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ dữ dội).
a.Tính cách hung bạo : Tính cách hung bạo của sông Đà dược miêu tả ở vẻ bề ngoài đầy sức mạnh hoang dại “ở chỗ vách thành dựng đứng”. Chỗ ấy sông hẹp như một cái yết hầu …và nguy hiểm chỉ thấy mặt trời khi đúng ngọ. Sông Đà hẹp cho đến nỗi “con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Nguyễn Tuân miêu tả sông Đà không chỉ bằng thị giác mà còn bằng xúc giác “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy giữa mùa hè mà cảm thấy ớn lạnh, mà còn thấy tối, thấy như hụt hẫng thất thần như dang ở con hẻm nào đó mà ngóng vọng lên cửa sổ ở tầng nhà thứ mấy nào đó dang tắt phụt đèn điện”. Tất cả những hình ảnh đó tạo cho con người cảm giác ghê rợn và nguy hiểm.
Cái nguy hiểm của sông Đà còn được thể hiện ở mặt nước sông Đà “ trên sông Đà có nhiều vực xoáy, nhiều luồng chết, nhiều đá ghềnh và nhiều sóng thác”. Mà rõ nét nhất là những quãng như : mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số đầy đá với sóng gió quanh năm “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nỡ xuýt”. Câu văn của Nguyễn Tuân có nhịp điệu 3/3/3 như mô phỏng độ lượn của mặt ghềnh. Ở mặt ghềnh mà con thuyền vượt qua chỉ thấy nước – đá – sóng – gió mà thôi. Những từ lặp lại “nước-đá-sóng” như gối lên nhau hồi hoàn của mặt ghềnh nguy hiểm. Nhờ vậy câu văn tạo nên một cảm giác mạnh của mặt ghềnh ào ạt. Nếu không phải là cây bút tài hoa thì không thể tổ chức được một câu văn giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh như thế.
Cái hung bạo dữ dội của sông Đà còn được thể hiện ở những cái hút nước, xoáy nước như những cái giếng bê tông ở quãng Tà Mường Vát dưới Sơn La “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc’. Có khi nhà văn lại so sánh như những cái giếng sâu, nước ặc ặc như rót dầu sôi vào và chẳng may con thuyền nào bị cái hút nó hút xuống “thuyền trồng ngay cây chuối ngược đi ngầm dưới lòng sông, mươi phút sau sẽ thấy tan xác ở khuỷu sông bên dưới”. Nhờ thủ pháp so sánh, Nguyễn Tuân đã truyền được cảm giác mạnh cho người đọc về sự nguy hiểm của mặt nước sông Đà. Ở chỗ này, nhà văn đã sử dụng con mắt của điện ảnh để tưởng tượng “một anh quay phim táo tợn nào đấy, ngồi vào cái thuyền thúng, cho nó hút vào cái đáy của hút nước khủng khiếp kia tạo cho người xem cảm giác hãi hùng. Sức tưởng tượng kì diệu của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên tạo
hóa.
Sự dữ dội của sông Đà còn ở âm thanh của thác nước. Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, sông Đà là loài thủy quái nham hiểm, ẩn chứa sức mạnh ghê gớm. Tiếng thác nước được miêu tả từ xa cho đến gần. Khi ở xa, nó gầm gào qua những thác dữ, tiếng nước réo gần mãi, lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, lại như van xin, giọng gằn mà đầy chế nhạo. Nhưng khi đến gần, nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ
(Trích) Nguyễn Tuân
I/ TIỂU DẨN :
- Xuất xứ : Người lái đò sông Đà được in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960).
- Hoàn cảnh ra đời : Đây là kết quả của những chuyến đi thực tế đến Tây Bắc vừa để thỏa mãn thú phiêu lãng, vừa tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên và chất vàng mười “thứ vàng mười được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động và chiến đấu vùng Tây Bắc.
II/ ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN :
1/ Hình tượng con sông Đà : Con sông là cảm hứng muôn đời của thơ ca. Với Nguyễn Tuân, sông Đà không còn là một thiên nhiên vô tri vô giác mà trở thành một hình tượng văn học, một sinh thể có tính cách, có tâm trạng độc đáo. Sông Đà có hai nét tính cách đối lập nhau “hung bạo và trữ tình” như nhà văn nhận xét trong tác phẩm. Lúc hung bạo, trở mặt, sông Đà là “một thứ kẻ thù số một, luôn luôn làm mình, làm mẩy với con người và nó ác như một mụ dì ghẻ”, nhưng khi trữ tình, sông Đà đầy chất thơ, dịu dàng và thân thiết như “một cố nhân”. Hai nét tính cách đối lập của sông Đà phù hợp với khả năng chiếm lĩnh thực tại của con người và phù hợp với phong cách của Nguyễn Tuân (tìm đến với những vẻ đẹp khác thường, những cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ dữ dội).
a.Tính cách hung bạo : Tính cách hung bạo của sông Đà dược miêu tả ở vẻ bề ngoài đầy sức mạnh hoang dại “ở chỗ vách thành dựng đứng”. Chỗ ấy sông hẹp như một cái yết hầu …và nguy hiểm chỉ thấy mặt trời khi đúng ngọ. Sông Đà hẹp cho đến nỗi “con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”. Nguyễn Tuân miêu tả sông Đà không chỉ bằng thị giác mà còn bằng xúc giác “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy giữa mùa hè mà cảm thấy ớn lạnh, mà còn thấy tối, thấy như hụt hẫng thất thần như dang ở con hẻm nào đó mà ngóng vọng lên cửa sổ ở tầng nhà thứ mấy nào đó dang tắt phụt đèn điện”. Tất cả những hình ảnh đó tạo cho con người cảm giác ghê rợn và nguy hiểm.
Cái nguy hiểm của sông Đà còn được thể hiện ở mặt nước sông Đà “ trên sông Đà có nhiều vực xoáy, nhiều luồng chết, nhiều đá ghềnh và nhiều sóng thác”. Mà rõ nét nhất là những quãng như : mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số đầy đá với sóng gió quanh năm “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nỡ xuýt”. Câu văn của Nguyễn Tuân có nhịp điệu 3/3/3 như mô phỏng độ lượn của mặt ghềnh. Ở mặt ghềnh mà con thuyền vượt qua chỉ thấy nước – đá – sóng – gió mà thôi. Những từ lặp lại “nước-đá-sóng” như gối lên nhau hồi hoàn của mặt ghềnh nguy hiểm. Nhờ vậy câu văn tạo nên một cảm giác mạnh của mặt ghềnh ào ạt. Nếu không phải là cây bút tài hoa thì không thể tổ chức được một câu văn giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh như thế.
Cái hung bạo dữ dội của sông Đà còn được thể hiện ở những cái hút nước, xoáy nước như những cái giếng bê tông ở quãng Tà Mường Vát dưới Sơn La “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc’. Có khi nhà văn lại so sánh như những cái giếng sâu, nước ặc ặc như rót dầu sôi vào và chẳng may con thuyền nào bị cái hút nó hút xuống “thuyền trồng ngay cây chuối ngược đi ngầm dưới lòng sông, mươi phút sau sẽ thấy tan xác ở khuỷu sông bên dưới”. Nhờ thủ pháp so sánh, Nguyễn Tuân đã truyền được cảm giác mạnh cho người đọc về sự nguy hiểm của mặt nước sông Đà. Ở chỗ này, nhà văn đã sử dụng con mắt của điện ảnh để tưởng tượng “một anh quay phim táo tợn nào đấy, ngồi vào cái thuyền thúng, cho nó hút vào cái đáy của hút nước khủng khiếp kia tạo cho người xem cảm giác hãi hùng. Sức tưởng tượng kì diệu của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên tạo
hóa.
Sự dữ dội của sông Đà còn ở âm thanh của thác nước. Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, sông Đà là loài thủy quái nham hiểm, ẩn chứa sức mạnh ghê gớm. Tiếng thác nước được miêu tả từ xa cho đến gần. Khi ở xa, nó gầm gào qua những thác dữ, tiếng nước réo gần mãi, lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như oán trách gì, lại như van xin, giọng gằn mà đầy chế nhạo. Nhưng khi đến gần, nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ
 






Các ý kiến mới nhất